TƯ VẤN LY HÔN

CẤP DƯỠNG CHO CON NGOÀI GIÁ THÚ

Trong thực tiễn, việc sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn khá phổ biến. Khi sống chung, giữa hai người có thể có tài sản chung, nợ chung và con chung. Trong ba vấn đề trên, Tòa án chỉ thụ lý yêu cầu của một bên về việc xác nhận người kia là cha/mẹ của đứa trẻ và yêu cầu người đó phải cấp dưỡng mà không giải quyết các vấn đề về tài sản và nợ.

Lý do  vì pháp luật không công nhận họ không phải là vợ chồng hợp pháp nên không giải quyết về tài sản chung và nợ chung theo chế độ tài sản và nợ của vợ chồng. Tuy nhiên, họ vẫn là cha mẹ của đứa trẻ nên tòa vẫn giải quyết các về vấn đề con chung vì lợi ích của đứa trẻ.

Giả sử A sống với B không đăng ký kết hôn, sinh ra con chung là C. A kết hôn với người khác, B trực tiếp nuôi C. B khởi kiện A tại tòa án có thẩm quyền. Những trường hợp có thể xảy ra và cách xử lý như sau:

1. Nếu Giấy khai sinh của C có ghi tên A là cha/mẹ thì trong đơn khởi kiện B chỉ cần yêu cầu A phải cấp dưỡng, sử dụng chứng cứ là giấy khai sinh của C. A sẽ phải cấp dưỡng vì cha mẹ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cái chưa thành niên, đã thành niên và chưa có tài sản riêng để tự nuôi bản thân (Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).

2. Nếu Giấy khai sinh của C chỉ có tên B là cha/mẹ, A không thường nhận C là con. Lúc này trong đơn khởi kiện của B phải có hai yêu cầu là: Công nhận A là cha/mẹ cho C và yêu cầu A phải cấp dưỡng cho C.

Mức cấp dưỡng tùy thuộc vào nhu cầu của đứa trẻ và thu nhập của A. B có thể yêu cầu A phải trả khoản tiền cấp dưỡng cho khoảng thời gian B không thừa nhận C là con, tuy nhiên, A phải chứng minh số tiền A yêu cầu có cơ sở.

Tòa án có thể không chấp nhận yêu cầu này khi họ lập luận rằng: Cấp dưỡng là chu cấp một khoản tiền để đảm bảo cuộc sống hiện tại và tương lai của đứa trẻ. Khoảng thời gian B không thừa nhận C là con là sự việc trong quá khứ nên không thể xem đây là việc cấp dưỡng. Mặt khác, khoảng thời gian này B không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng vì chưa xác định C là con.
 

Con ngoài giá thú được mang họ của cha

Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
 
Theo quy định này, 2 người không đăng ký kết hôn nên pháp luật vẫn không công nhận hai bạn là vợ chồng. Do đó, con được sinh ra khi hai bạn chưa có Giấy chứng nhận kết hôn là con ngoài giá thú.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.
Trong trường hợp của bạn, vào thời điểm làm giấy khai sinh cho con, bạn có thể tiến hành thủ tục nhận con, UBND cấp xã sẽ kết hợp việc nhận con và làm giấy khai sinh cho trẻ. Khi đó, trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của trẻ có đầy đủ tên cha và mẹ.
Theo quy định tại Điều 34 Nghị định 158/2005/NĐ-CP nói trên, để làm thủ tục nhận con, bạn cần có: Tờ khai (theo mẫu); Các giấy tờ, đồ vật hoặc chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con (nếu có); và có sự đồng ý của mẹ đứa trẻ
Ngoài ra, điểm b khoản 4 mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch còn quy định: trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận, tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con. Theo đó, để trẻ được khai sinh có đầy đủ tên cha, mẹ trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh mà bạn không phải làm thủ tục nhận con (như đã nêu ở trên) bạn và mẹ đứa trẻ nên tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã trước khi tiến hành thủ tục khai sinh cho trẻ.
Về xác định họ của người con, tại điểm e khoản 1 Mục II Thông tư 01/2008/TT-BTP nói trên cũng hướng dẫn: khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ. Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quyết định công nhận việc nhận cha cho con, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ.
Như vậy, sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha cho con hoặc sau khi bạn và mẹ đứa trẻ có Giấy chứng nhận kết hôn, trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của người con, người con được mang họ và quê quán của bạn, trừ trường hợp hai người có thỏa thuận lấy họ đứa trẻ theo họ của người mẹ.

ĐĂNG KÝ KHAI SINH CON NGOÀI GIÁ THÚ

Theo quy định của Nghị định số 58/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch, để đảm bảo quyền được khai sinh cho trẻ em khi sinh ra, con trong giá thú và con ngoài giá thú đều bình đẳng về việc được đăng ký khai sinh mà không có bất kỳ sự phân biệt nào cả, cụ thể thủ tục đăng ký khai sinh được quy định chung như sau:
- Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em được thực hiện tại UBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì đăng ký khai sinh tại UBND cấp xã nơi cư trú của người cha. Tuy nhiên, đối với trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú nếu không xác định được người cha, phần ghi về người cha ghi trong sổ đăng ký khai sinh và giấy đăng ký khai sinh để trống. Nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, Uỷ ban nhân dân cấp xã kết hợp việc nhận con và đăng ký khai sinh.
- Hồ sơ đăng ký khai sinh bao gồm: Giấy chứng sinh do cơ sở y tế nơi đứa trẻ sinh ra cấp, nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, Giấy chứng sinh được thay thế bằng Giấy xác nhận của người làm chứng, nếu không có người làm chứng thì người làm giấy khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trường hợp cha mẹ có đăng ký kết hôn thì xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
Thủ tục nhận cha cho con được tiến hành theo 2 trường hợp như sau:
Trường hợp thứ nhất: Việc nhận cha cho con do các bên tự nguyện và không có tranh chấp  được thực hiện tại UBND cấp xã theo quy định tại Điều 34, Nghị định số 58 như sau:
- Người nhận cha cho con nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), trường hợp nhận cha cho con chưa thành niên phải có sự đồng ý của người đang là mẹ của đứa trẻ, trừ trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời phải xuất trình các giấy tờ sau đây: Giấy khai sinh của người con; Giấy tờ, đồ vật hoặc chứng cứ khác chứng minh quan hệ cha - con (nếu có).
- Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha cho con là đúng sự thật và không có tranh chấp UBND cấp xã đăng ký việc nhận cha cho con. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
- Khi đăng ký việc nhận cha cho con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt và UBND xã sẽ cấp Quyết định công nhận việc nhận cha cho con.
Căn cứ vào Quyết định công nhận này, các bên có thể đề nghị UBND xã đăng ký bổ sung phần ghi thông tin người cha trên Giấy khai sinh cho trẻ em.
Trường hợp thứ hai: Các bên không tự nguyện trong việc nhận cha cho con, tức là có tranh chấp về việc nhận cha cho con, có thể là người cha không thừa nhận đứa con hoặc người mẹ không đồng ý về việc nhận cha cho con của mình đối với trường hợp con chưa thành niên hoặc người con không đồng ý nhận cha khi đã thành niên hoặc có người thứ ba cùng yêu cầu nhận cha cho con. Trường hợp này, người có yêu cầu nhận cha cho con phải làm đơn khởi kiện ra Tòa án cấp huyện.
Đây là một loại án hôn nhân gia đình, cụ thể là tranh chấp về xác định cha cho con do TAND có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và Tố tụng dân sự.
Trường hợp này, người yêu cầu phải cung cấp các chứng cứ chứng minh quan hệ cha – con, ví dụ như: thư từ trao đổi giữa cha mẹ có tình cảm yêu đương, thời điểm quan hệ giữa hai người, thông báo việc có thai, trao đổi về trách nhiệm nuôi con… hoặc kết quả giám định ADN. 

 

Gửi bình luận và chia sẻ bài viết này trên:

Thủ tục ly hôn vắng mặt

Thủ tục ly hôn được chia ra: thủ tục ly hôn đồng thuận và thủ tục ly hôn đơn phương. Đối với trường hợp ly hôn đơn phương là ly hôn dựa theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, vì vậy có rất nhiều trường hợp bên người vợ/chồng bị yêu cầu (hay còn gọi là bị đơn) sẽ không chịu hợp tác và không tham gia phiên tòa.

Ngoại tình bị xử lý ?

Tranh chấphôn nhân gia đình là một lĩnh vực có thể nói là rất phức tạp, liên quan đến nhiều cánhân, nhiều thế hệ. Đơn giản vì ai cũng cógia đình ( cha mẹ, vợ chồng, con cái) và mọi sự biến động liên quan đếngia đình đều làm phát sinh hàng loạt các vấn đề pháp lý phức tạp. 

Ly hôn thuận tình

Ly hôn thuận tình là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của cả 2 vợ chồng  khi đã thỏa thuận được tất cả những vấn đề quan hệ vợ chồng, quyền nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản (hoặc đồng ý tách riêng yêu cầu chia tài sản vợ chồng thành một vụ án khác sau khi đã ly hôn). Tòa án sẽ thực hiện theo thủ tục ly hôn thuận tình. Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Ly hôn đơn phương

Thủ tục ly hôn được chia ra: thủ tục ly hôn đồng thuận và thủ tục ly hôn đơn phương. Đối với trường hợp ly hôn đơn phương là ly hôn dựa theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, vì vậy có rất nhiều trường hợp bên người vợ/chồng bị yêu cầu (hay còn gọi là bị đơn) sẽ không chịu hợp tác và không tham gia phiên tòa.

TƯ VẤN LY HÔN HÀ NỘI

Những bằng chứng để chứng minh hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng của bạn có thể là: đứa con chung của bạn với người phụ nữ không phải vợ bạn, được hàng xóm hoặc những người xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung, đã được gia đình, cơ quan đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục mối quan hệ đó…

TƯ VẤN THỦ TỤC LY HÔN

Thưa Quý khách :
Thực tiễn việc giải quyết ly hôn ở toà án các quận huyện có nhiều sự khác nhau về thời gian, trình tự, yêu cầu về xác nhận tình trạng hôn nhân, hoà giải địa phương........, hồ sơ, đơn ly hôn, với mục đích giúp quý khách hiểu và giải quyết vấn đề được toàn diện.

Tài sản chung khi ly hôn

Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

Quyền nuôi con

Khi ly hôn vợ chồng sẽ đều có quyền bình đẳng với nhau trong vấn đề con cái, trong đó quyền được nuôi con sau khi ly hôn được pháp luật công nhận và quy định tại Luật hôn nhân gia đình 2014.

Thủ tục ly hôn nước ngoài

Thủ tục ly hôn với người nước ngoài là thủ tục ly hôn có liên quan đến 1 trong các bên đương sự có yếu tố nước ngoài. Do có yếu tố nước ngoài vì vậy thủ tục ly hôn với người nước ngoài có những đặc thù riêng so với những trường hợp ly hôn thông thường giữa những công dân trong nước.
Tin tức tổng hợp
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ