VĂN PHÒNG LUẬT SƯ


1. Phân loại đối tượng khách hàng yêu cầu xử lý thu hồi nợ hợp pháp:

Khách hàng yêu cầu kiện đòi nợ gồm :

- Cá nhân đòi nợ cá nhân;

- Cá nhân đòi nợ tổ chức;

- Cá nhân đòi nợ doanh nghiệp;

- Tổ chức đòi nợ cá nhân;

- Tổ chức đòi nợ tổ chức;

- Doanh nghiệp đòi nợ cá nhân;

- Doanh nghiệp đòi nợ tổ chức;

- Doanh ngiệp đòi nợ doanh nghiệp;

2. Phân loại các khoản nợ

Các loại nợ mà Văn phòng luật sư chúng tôi có thể đảm nhận kiện đòi gồm :

- Nợ phát sinh từ vay, mượn tài sản nhưng không thanh toán

- Nợ phát sinh từ vi phạm hợp đồng ( Bao gồm các loại hợp đồng )

- Nợ phát sinh từ trách nhiệm ngoài hợp đồng . . . 

3. Tiếp nhập hồ sơ nợ

Cách thức tiếp nhận hồ sơ nợ được qua các bước như sau :

Khách hàng cung cấp toàn bộ chứng từ hồ sơ nợ có liên quan gồm :

+ Nếu là doanh nghiệp thì hồ sơ gồm có:

Giấy chứng nhận đang ký kinh doanh và toàn bộ chứng từ nợ nếu có như : Hợp đồng , hóa đơn, phiếu xuất kho, giấy xác nhận nợ . . .

+ Nếu là cá nhân thì hồ sơ gồm có :

Giấy chứng minh nhân dân và toàn bộ chứng từ nợ làm bằng chứng nếu có như : Giấy xác nhận nợ, giấy hẹn nợ chứng từ vay mượn, mua bán  . . .

Lưu ý : (Quý khách chỉ cung cấp hồ sơ nợ bằng bảng photocopy, bảng chính hồ sơ nợ khách hàng tự giữ)

- Trình bày sơ lược về nội dung của vụ nợ (có mẫu kèm theo)

- Sau khi tiếp nhận hồ sơ nợ và thấy hồ sơ nợ có cơ sở kiện đòi. Văn phòng luật sư chúng tôi sẽ tiến hành ký hợp đồng dịch vụ pháp lý kiện đòi nợ với khách hàng. Đồng thời khách hàng sẽ ủy quyền cho Văn phòng luật sư chúng tôi được quyền đòi nợ. Mọi thủ tục giấy tờ chúng tôi cung cấp cho khách hàng. 

4. Xử lý hồ sơ nợ

Sau khi thủ tục tiếp nhận hồ sơ hoàn thành. Văn phòng luật sư chúng tôi tiến hành các bước như sau : 

a. Bước thứ nhất là xác minh hồ sơ nợ :

- Xác minh tính pháp lý hồ sơ nợ là xem xét đối chiếu lại toàn bộ chứng từ nợ của khách hàng cung cấp có đủ cơ sở pháp lý hay không.

- Xác minh bên nợ có còn tồn tại trên thực tế hay không. Ví dụ như: Nếu người nợ là cá nhân thì người đó còn sống hay đã chết hoặc họ còn thường trú ở địa phương hay đã chuyển đi nơi khác . . .Nếu là doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó có còn hoạt động hay đã ngưng hoạt động, hoặc là đã chuyển trụ sở đi nơi khác hoặc đã giải thể hay đã bị phá sản

- Xác minh sơ bộ về khả năng thanh toán nợ của người nợ. Ví dụ : Nếu bên  nợ là doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó có nhiều tài sản hay không, có mắc nợ nhiều người hay không, có rơi vào trình trạng phá sản hay không ?. Nếu là cá nhân thì cá nhân đó có tài sản xe cộ nhà cửa gì không

- Kết quả xác minh cho thấy một trong ba điều kiện như hồ sơ nợ không đủ cơ sở pháp lý hoặc người nợ không còn trên thực tế thì chúng tôi sẽ trả lại hồ sơ cho khách hàng bằng một văn bản chính thức.

- Thời hạn xác minh mỗi hồ sơ nợ là không qua 30 ngày kể từ ngày nhận giấy tờ hồ sơ đầy đủ . Trong thời hạn xác minh chúng tôi vẫn tiến hành thu hồi nợ nếu người nợ có thanh toán. Nếu thu được nợ trong giai đoạn này khách hàng vẫn phải thanh toán tiền thù lao cho chúng tôi 

b. Bước thứ hai là tiếp cận thương lượng thu hồi nợ :

- Qua quá trình xác minh hồ sơ nợ thấy hợp lệ. Chúng tôi tiến hành tiếp xúc người nợ bằng cách gửi thư mời hoặc gặp trực tiếp người nợ giải quyết. Trong thời gian này nếu người nợ có thiện chí hợp tác trả nợ thì chúng tôi sẽ thu hồi nợ theo phương thức thỏa thuận này nếu chủ nợ đồng ý .

- Ngược lại trong thời gian chúng tôi tiếp cận bên nợ, mà người nợ tỏ thái độ không thiện chí trả nợ thì chúng tôi sẽ tiến hành những thủ tục pháp lý cần thiết kiện người nợ ra cơ quan pháp luật nếu chủ nợ có yêu cầu. 

c. Bước thứ ba là kiện đòi nợ :

Sau khi tiếp cận bên nợ để thương lượng thu hồi nợ mà người nợ không có thiện chí hợp tác giải quyết nợ thì Văn phòng luật sư chúng tôi sẽ tiến hành những thủ tục pháp lý kiện bên nợ ra pháp luật giải quyết như :

- Làm đơn khởi kiện

- Nộp đơn khởi kiện

- Tham gia vụ kiện khi có giấy triệu tập của tòa

- Hướng dẫn làm đơn yêu cầu thi hành án . . .

- Khách hàng phải tự chi phí cho vụ kiện như: (án phí, phí, lệ phí khác nếu có)

- Trong giai đoạn này, chúng tôi sẽ cử người làm đại diện ra tòa thay cho khách hàng, đồng thời sẽ cử Luật sư tham gia tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng khi thấy cần thiết. 

 

5. Tền thù lao và Phương thức thanh toán

a. Tiền thù lao được tính như sau:

- Thỏa thuận đòi được nợ thì tiền thù lao sẽ được tính từ : 10% đến 15% trên tổng giá trị nợ thu được . Tùy theo tính phức tạp của mội hồ sơ

- Đòi nợ bằng thủ tục khởi kiện thì tiền thù lao sẽ được tính từ 20% đến 25% trên tổng giá trị nợ thu được tùy theo tính phức tạp của mỗi hồ sơ 

b. Phương thức thanh toán tiền thù lao :

Có hai phương thức thanh toán tiền thù lao đó là : Tiền thù lao đòi nợ theo thủ tục thỏa thuận và tiền thù lao đòi nợ theo thủ tục kiện đòi.

Phương thức thanh toán tiền thù lao theo thủ tục thỏa thuận :  

Thỏa thuận với bên nợ đòi được nợ đến đâu thì trích % thanh toán đến đó. 

Phương thức thanh toán tiền thù lao theo thủ tục kiện đòi : 

Khách hàng phải ứng trước cho chúng tôi là 5% trên tổng giá trị nợ kiện đòi trước khi nộp đơn khởi kiện cho đến khi vụ kiện có Quyết định hoặc Bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm.

Sau khi vụ kiện đã được xét xử bằng một quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực thi hành. Trong giai đoạn này nếu bên nợ tự nguyện thanh toán thì chúng tôi tiếp tục thu nợ cho khách hàng, nếu bên nợ không tự nguyện thanh toán nợ thì chúng tôi sẽ làm đơn yêu cầu Đội thi hành án cưỡng chế thi hành.

Trên đây chỉ là quy định mang tính chung nhất. Khách hàng có nhu cầu kiện đòi nợ, Chúng tôi sẽ ký kết bằng một hợp đồng chính thức với với nội dung được quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ cả hai bên, tiền thù lao và phương thức thanh toán sẽ được thỏa thuận lại một cách rõ ràng .

LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP : 0989.031. 643


HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC ĐÒI NỢ VÀ CÁC HẬU QUẢ CỦA NÓ

 
Khi đòi nợ không được nhiều người đã tìm đến nhiều cách thức đòi nợ kiểu, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, xã hội đen. Và như vậy liệu cách đòi nợ đó có phạm luật?
 
- Dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp con nợ để giải quyết
Thực tế những năm gần đây, đặc biệt là những năm kinh tế gặp nhiều khó khăn tình hình vay nợ đến mất khả năng trả nợ ngày càng tăn và khi nợ đến hạn con nợ không có khả năng thanh toán đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ có quy mô lớn, chủ nợ đã dùng vũ lực, hay các biện pháp thuê dịch vụ chuyên đời nợ thuê để đòi nợ, thậm chí để uy hiếp con nợ hòng trả tiền không ít chủ nợ còn thuê hẳn xã hội đen để giải quyết.
Như vậy, trong các trường hợp nợ quá hạn không trả được hẩu hết các chủ nợ khi có tranh chấp xảy ra đã không giải quyết bằng con đường kiện tụng hay nhờ cơ quan tố tụng can thiệp mà họ tự giải quyết, liệu như vậy có hợp pháp?
Cũng cần khẳng định rằng, nhiều trường hợp khi xảy ra tranh chấp về nợ nần, nếu bản thân người cho vay (chủ nợ) tự đòi tiền theo kiểu “xã hội đen” thì tùy từng hành vi, mức độ, cách thức mà có thể sẽ bị xử lý hình sự về các tội sau :
I. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
II. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Đối với trẻ em;
e) Đối với nhiều người;
g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
h) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
i) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười tám năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
IV. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
V. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
h) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.
VI. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Hành hung để tẩu thoát;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu
 
-Trong trường hợp việc thu hồi nợ mặc dù tiền không thu được, không chứng minh được hành vi chiếm đoạt tài sản ( tiền, vật ) để thu hồi nợ, nhưng dẫn đến va chạm đánh nhau…., hoặc gây thương tích thì tùy vào mức độ mà có thể bị truy cứu theo các tội danh sau :
Điều 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Khoản 1.Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
e) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
f) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2.Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3.Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
4.Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”.
LƯU Ý: Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 có quy định về vấn đề Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại cụ thể như sau:
“1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104  ( Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác), 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.
Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Như vậy, nếu hành vi cố ý gây thương tích của bạn thuộc khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ bị khởi tố khi người bị hại yêu cầu khởi tố vụ án và ngược lại. Trong trường hợp này nếu gia đình người bị hại đã rút đơn (có thể hiểu là rút yêu cầu khởi tố) thì bạn sẽ không làm sao cả.
 
 
THAM KHẢO

Đòi tiền bằng con đường kiện dân sự

Kiện dân sự trong trường hợp chỉ là giao dịch dân sự vay tiền thông thường bằng hình thức, người cho vay tiền muốn đòi được nợ quá hạn mà bên vay chưa thanh toán thì phải gửi đơn khởi kiện đến Tòa án. Đồng thời để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bên cho vay cần phải cung cấp các cần tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch vay tiền trên thực tế, thông qua các tài liệu chứng minh có việc vay tiền, nhận tiền giữa hai bên. Theo đó, người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ có căn cứ để giải quyết khi người cho vay tiền phải có bằng chứng, chứng cứ thể hiện mối quan hệ vay hoặc cả hai bên đều thừa nhận có giao dịch vay tiền trên thực tế.
Trong trường hợp việc vay mượn giữa hai bên không thiết lập hợp đồng, cũng không có giấy biên nhận hay giấy ghi nợ thì bên cho vay có thể xuất trình cho Tòa án các chứng cứ như bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, nội dung tin nhắn vay tiền, hay nội dung email, người làm chứng xác nhận có việc vay tiền của bị đơn đối với nguyên đơn.v.v. Đây sẽ là chứng cứ trong trường hợp không có giấy tờ có giá trị chứng minh trực tiếp khoản vay. Tuy nhiên đây là trường hợp khó đòi nợ hơn do tính phức tạp của quá trình chứng minh. Do đó, đòi hỏi bên cho vay muốn đòi được khoản nợ phải tích cực cung cấp chứng cứ để đủ cơ sở lấy lại khoản tiền nợ ngắn hạn.
Cũng cần nhấn mạnh rằng, trong trường hợp Tòa án công nhận có khoản vay trên thực tế, bên cho vay chưa trả tiền thì để đòi được khoản tiền vay này, bên cho vay phải làm đơn xin Thi hành án Dân sự kê biên, phát mại để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay tiền. Và như vậy, nếu bên vay không có tài sản để thi hành án thì bao giờ mới đòi được nợ?
 
Tố giác tội phạm để lấy lại khoản vay
Mặt khác, việc đòi nợ cũng có thể giải quyết bằng con đường hình sự, thông qua việc tố giác tội phạm. Tùy từng trường hợp cụ thể nếu có đủ căn cứ xác định tội phạm, người vay tiền đã có những hành vi đủ yếu tố cấu thành Tội  “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì người cho vay tiền cần làm đơn tố giác gửi Cơ quan điều tra, để nghị tiến hành điều tra khởi tố vụ án. Đó là các trường hợp người vay tiền có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi lạm dụng tín nhiệm để vay tài sản hoặc vay tài sản sau đó tẩu tán tài sản, bỏ trốn... nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng khoản tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng thanh toán, có tài sản nhưng cố tình không trả nợ.v.v. Nếu xảy ra vụ án hình sự thì khi xét xử tòa án sẽ giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, theo đó người vay tiền vừa bị giải quyết về vấn đề hình sự vừa phải bồi thường số tiền chiếm đoạt cho người bị hại do hành vi phạm tội mà người vay tiền gây ra, theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
 

Gửi bình luận và chia sẻ bài viết này trên:

Thủ tục ly hôn nhanh

Thực tiễn việc giải quyết ly hôn ở toà án các quận huyện có nhiều sự khác nhau về thời gian, trình tự, yêu cầu về xác nhận tình trạng hôn nhân, hoà giải địa phương........, hồ sơ, đơn ly hôn, mỗi toà án yêu cầu khác nhau về đơn, về thủ tục và các văn bản đi kèm trong hồ sơ cũng không thống nhất gây khó khăn cho quý khách, tốn kém chi phí và thời gian, với mục đích giúp quý khách hiểu và giải quyết vấn đề được toàn diện.

Tranh chấp đất đai - nhà ở

Lĩnh vực tư vấn luật, giải quyết tranh chấp đất đai - nhà ở là một trong những lĩnh vực chúng tôi tư vấn đại diện pháp lý. Lĩnh vực này do nhóm Luật sư đất đai, Luật sư nhà đất phụ trách sẽ tư vấn và đưa ra giải pháp hiệu quả nhất cho khách hàng. Đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho quý khách. Văn phòng luật sư cung cấp đến quý khác các dịch vụ:

Bào chữa vụ án hình sự - Các tội phạm

Tư vấn và giúp khách hàng, bị can, bị cáo tìm các chứng cứ ngoại phạm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự, lỗi trong Tố tụng hình sự. Tư vấn và giúp khách hàng, bị can, bị cáo nhận thức rõ được quyền và nghĩa vụ của họ trong điều kiện, hoàn cảnh thực tại, trên cơ sở đó đối chiếu với quy định của pháp luật tư vấn và hướng dẫn khách hàng, bị can, bị cáo khai khi bị hỏi cung trước các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc trước phiên Tòa tránh tình trạng bị ép cung, mớm cung, dụ cung nhằm minh oan, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bồi thường thu hồi nhà đất

Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất đang là một trong những vấn đề nhức nhối tại Việt Nam hiện nay. Theo kết quả báo cáo hàng năm các vụ việc kiếu nại, khiếu kiện xảy ra ở Việt Nam thì có tới trên 60% phát sinh trong hoạt đồng bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Vậy do đâu mà hoạt động bồi thường khi nhà nước thu hồi đật lại gặp phải những kho khăn như vậy?

Thành lập công ty - Thay đổi giấy phép KD

Thời gian, Phí trọn gói thành lập công ty : 3- 6 ngày làm việc, phí : 2.500.000 VNĐ.
Khách hàng muốn sử dụng các gói dịch vụ với thời gian khác nhau vui lòng liên hệ trực tiếp với công ty chúng tôi.

Quyền nuôi con - tài sản chung khi ly hôn

Khi ly hôn vợ chồng sẽ đều có quyền bình đẳng với nhau trong vấn đề con cái, trong đó quyền được nuôi con sau khi ly hôn được pháp luật công nhận và quy định tại Luật hôn nhân gia đình 2014, quan hệ về tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn việc phân chia tài sản được đặt ra, vì vậy việc nắm rõ những quy định của pháp luật liên quan đến chế độ tài sản chung vợ chồng cũng như những nguyên tắc phân chia tài sản chung sẽ giúp cho việc giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn của vợ chồng trong vấn đề về tài sản.

Luật sư tư vấn - Tranh tụng - Đại diện

Mọi thắc mắc pháp lý sẽ được luật sư, chuyên gia pháp lý tư vấn, hỗ trợ giải đáp trên tinh thần trách nhiệm.

Tin tức tổng hợp
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ